Đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên mật trận lý luận trong tình hình mới hiện nay

05/11/2014
Việc nghiên cứu, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là đòi hỏi có tầm quan trọng hàng đầu, đặc biệt  trong bối cảnh trong nước và thế giới hiện nay đang có những biểu hiện mới. Trong khi đó, quá trình mở cửa hội nhập quốc tế đang được thúc đẩy mạnh mẽ, đi vào chiều sâu; an ninh biển đảo đang đứng trước những thách thức to lớn; các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Tình hình đó đặt ra trách nhiệm nặng nề đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, trong đó cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch càng trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu. Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh “Tiến hành đồng bộ công tác tư tưởng, công tác lý luận, gắn với công tác tổ chức-cán bộ và phát triển kinh tế; chống sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch”(1). Xin nêu một số xu hướng mà các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện truyền bá những quan điểm sai trái gần đây là:
- Tấn công vào nền tảng và tư tưởng của chúng ta, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhà tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội phê phán, đả kích tới tấp vào chủ nghĩa Mác – Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta và đẩy chúng ta đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa cộng sản như: Du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng lý luận Mác – Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh dân tộc thuần túy, không thể áp đặt nguyên mẫu học thuyết Mác – Lênin vào Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế thị trường.
- Phủ định nền tảng tư tưởng, phủ định học thuyết Mác – Lênin, cho rằng học thuyết Mác – Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp ở một chừng mực nào đó, lực lượng sản xuất và văn hóa của nước Nga, không phù hợp với thế kỷ này, từ đó cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin lỗi thời ở Việt Nam. Gần đây chúng chuyển sang luận điệu “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa,…”. Đồng thời, chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa ra các luận điệu “đấu tranh giai cấp”, “tập trung dân chủ” là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển.
- Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm. Cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử,… Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi chúng cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác – Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm là một sai lầm mà lịch sử không bao giờ tha thứ. Từ đó họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch “hạ bệ thần tượng”. Gần đây chúng tung lên luận điệu “No Ho”, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác – Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác – Lênin đã lỗi thời, chỉ nên dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao chủ nghĩa Hồ Chí Minh. “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” cũng ám chỉ chủ nghĩa dân tộc. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với cương lĩnh của Đảng.
- Phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được, sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu, được dự báo trước. Cho rằng chủ nghĩa xã hội đặt xã hội lên trên cá nhân, chỉ là đề cao một số người đang nắm quyền trong xã hội đó.
- Tấn công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng không thể làm trái quy luật bỏ qua chế độ tư bản mà là phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết các vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó, theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Nếu định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ không thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, sẽ bị cô lập trên trường quốc tế, nên gác định hướng xã hội chủ nghĩa lại. Chúng rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn sai đường, không thể có chủ nghĩa xã hội. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng, chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ tới chủ nghĩa tư bản, những ước mơ của chủ nghĩa xã hội thì chính chủ nghĩa tư bản đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. Tóm lại, người ta muốn nói những người mác xít bàn về chủ nghĩa xã hội chẳng khác nào bàn về “hư vô”.
- Tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong thời kỳ đầu đổi mới xuất hiện một số ấn phẩm có nội dung phê phán, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Ở nước ngoài, các nhóm phản động người Việt lưu vong như: Diễn đàn, Thông luận cùng với “12 điều kiến nghị của một công dân” của Bùi Tín, đã truyền qua đài BBC, RFI, chuyển về nước đòi “đổi mới triệt để”, “cải tổ Đảng”, “xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng”. Nhân dịp Quốc hội phát động toàn dân góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp, chúng đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, đổ lỗi tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở nước ta là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Các thế lực chống cộng tập trung bài xích nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”, thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước; đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân.
          - Về sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân, chúng cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, “lại được đào luyện trong một logic chuyên chế bạo ngược”, cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Họ lập luận: “…nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như trên, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam…” v.v…
- Phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phê phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa. Cho rằng “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”. Gần đây có luận điểm xảo quyệt, thâm độc hơn như “con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ tư bản chủ nghĩa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau”. Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa lại viện dẫn cơ sở lý luận, phương pháp luận mác xít về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy tự nhiên. Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, giãy chết của chủ nghĩa tư bản, thì bây giờ lại ấu trĩ cho rằng thế giới tư bản chủ nghĩa ngày nay toàn những nước có nền công nghiệp phát triển cao, toàn những con rồng, con hổ; rằng con đường tư bản sẽ đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. Họ ngụy biện không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận chủ nghĩa xã hội chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của thất bại và đổ vỡ. Tấn công vào định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, họ cho rằng Đảng ta đưa ra định hướng xã hội chủ nghĩa là thừa, vô nghĩa, do đó chỉ cần đặt vấn đề xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh là đủ, cần gì phải định hướng xã hội chủ nghĩa, vì theo họ dòng sông tự nó phải chảy ra biển, cần gì phải uốn nắn. Rằng Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa là một điều kỳ quặc, trái quy luật, vì thế hãy gác lại mục tiêu chủ nghĩa xã hội và lùi về với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đúng đắn nhất.
- Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bôi nhọ lãnh đạo. Chúng cho rằng Đảng có nhiều sai lầm trong quá khứ, cho dù trong quá khứ có làm nhiều thành tích thì đến thời đại mới đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. Phản bác quan điểm, cương lĩnh của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch đòi “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Chúng xuyên tạc trong nội bộ Đảng ta vẫn duy trì cái gọi là chế độ tập trung dân chủ, mà hầu hết các Đảng Cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tâp trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành “đồ rởm”, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực, đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. “Đảng là cản trở của nền dân chủ” nên kiến nghị đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng “Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung”, “không lãnh đạo kinh tế, văn hóa, không lãnh đạo lực lượng vũ trang”… Đó là công việc của Nhà nước. Đây là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, phi chính trị hóa quân đội để vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng tung ra luận điệu trong Đảng có phe cải cách và phe bảo thủ, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các nhóm lợi ích ở cấp dưới. Chúng cũng bịa đặt rằng “điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng Cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền, đặc lợi”. Chúng tìm mọi cách bịa đặt nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký, tài liệu tung ra chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ, hòng mong chia rẽ nhân dân với Đảng.
- Chống phá nước ta về vấn đề nhân quyền: họ đưa ra những chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền, nhân quyền không biên giới, vấn đề nhân quyền về bản chất không còn là công việc thuộc nội bộ của một quốc gia”. Hơn nữa, họ còn nêu ra rằng, cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để bảo vệ nhân quyền và giải tỏa tai họa để can thiệp “nhân đạo”. Ngay cả khi quan hệ Việt – Mỹ đã được nâng lên thành quan hệ đối tác toàn diện, một số nhân vật trong chính quyền Mỹ vẫn công khai tuyên bố: “Vấn đề nhân quyền vẫn sẽ là trọng tâm của sự bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Sự khác biệt về nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã cản trở mối giao hảo giữa hai nước và sự tiến bộ chậm chạp về nhân quyền làm tắc nghẽn sự phát triển của Việt Nam”.
- Xuyên tạc lịch sử, đòi lật án, chúng xuyên tạc “thành quả Cách mạng Tháng Tám là thành quả cay đắng. Chính quyền về tay nhân dân nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản”, rằng “dù không có Đảng Cộng sản, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra”. Chúng vu cáo “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến, quân đội ta là những người lính đánh thuê của các thế lực hiếu chiến”. Họ còn nói chế độ một đảng là không dân chủ, thậm chí đòi các đảng đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy, theo họ dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại,… Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở  bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn.
Để chứng minh điều này, những người có lập trường cơ hội và thù địch viện dẫn và xuyên tạc nhiều sự thật lịch sử. Lấy hiện tượng làm bản chất, cường điệu một số hiện tượng đơn lẻ, có thực và có nguyên nhân cụ thể, biến nó thành phổ biến, tất yếu và không tránh khỏi của cả hệ thống. Từ tệ tham nhũng mà đảng đang đấu tranh thì họ suy ra thành đảng tham nhũng. Đối với các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, dưới con mắt của các phần tử cơ hội, thù địch đều cho là có vấn đề, sai lầm, đầy mâu thuẫn, lúng túng và bế tắc.
Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin. Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự hình thành xã hội dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng đôla, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước.
Một vấn đề rất quan trọng trong công tác lý luận là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị luôn dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định. Vậy nên, đấu tranh lý luận là một khía cạnh quan trọng trong đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề lý luận cốt lõi nhất, mà thường gắn với thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội.
Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của chúng ta. Tầm vóc và sức mạnh của dân tộc, của đất nước hôm nay mang đến cho công tác lý luận cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn tồn đọng một số vấn đề cần quan tâm giải quyết và cũng là khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. Đó là: “Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý. Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường chưa được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”. Bên cạnh đó, thách thức đối với công tác lý luận Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là nghịch lý và diễn biến khó lường của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội,… cũng bị những thế lực đế quốc, hiếu chiến, phản động, dùng mọi mưu mô đánh phá. Trong khi đó, thông tin về mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều, trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả tình hình đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. Trong đấu tranh lý luận, phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời cần đổi mới, sáng tạo. Điều căn bản nhất là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chính yếu sau:
 Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận thức rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Con đường đó không ít khó khăn, lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan duy ý chí hoặc do bảo thủ, trì trệ dẫn tới đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu - những nơi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực tưởng như rất vững chắc, nhưng bị tan rã một cách nhanh chóng, đã cho ta thấy tính phức tạp của thế giới đương đại và trắc trở, khó khăn của con đường đi tới tương lai của loài người. Vấn đề đặt ra là vận mệnh của chủ nghĩa xã hội sẽ phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt vướng mắc bên trong của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất là khi chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng hoàn hảo. Đó là những vấn đề nảy sinh từ sự phức tạp của thực tiễn mà ta chưa lường hết và có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động; từ thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu; thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ; vi phạm nguyên tắc dẫn tới sự chệch hướng.
Thực tiễn quá trình cách mạng hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Nhưng ai cũng biết, mặc dù luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ đan xen, rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ nguyên lý, quan điểm, định hướng của chúng ta.
Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Một mặt, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội và xã hội xã hội chủ nghĩa được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng quy luật khách quan. Mặt khác, đôi khi không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là luận thuyết về chủ nghĩa xã hội được xác lập dựa vào phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ những vấn đề, những yếu tố không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. Lý thuyết nguyên bản cội nguồn đó khi được áp dụng vào tình huống cụ thể, lẽ ra phải tính tới sự gắn kết điều kiện bên ngoài với bên trong và phải được soi rọi từ thực tế thì sự vận dụng nhiều khi biệt lập, không cân nhắc đến khía cạnh đó nên dễ bị khiên cưỡng và thường gặp vướng mắc khó có thể tháo gỡ.
Tính trừu tượng cao của chủ nghĩa xã hội khoa học chính là nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể không tính đến, thậm chí phải hết sức tính đến điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo lý luận kết hợp với thực tiễn. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác – Lênin, Người đã vận dụng học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.
Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất quan hệ sản xuất phải phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Vấn đề sở hữu cũng vậy, trước đây trong lý thuyết, chúng ta hết sức chú trọng đến sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là điều tuyệt đối đúng, là hình thức cơ bản đặc trưng của chủ nghủa xã hội. Cho đến hiện nay, khi xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì xuất hiện nhận thức lửng lơ, phó mặc, ít chú trọng tới củng cố, hoàn thiện các thành phần kinh tế mang tính chủ đạo, nền tảng là kinh tế nhà nước và hợp tác xã.
 Khi nói về kết cấu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, đôi khi chúng ta mô tả một cách công thức, đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Như thế đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và trên thực tế sẽ tạo ra cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
          Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo một chiều hướng chính thống, theo công thức định sẵn, không chú ý tới vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định tư tưởng lý luận xa lạ, sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong sản xuất, phân phối và cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, những công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng chung sức.
Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của người dân. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng chung sức, tạo thành vật chất to lớn, thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là chất keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, tiếp tục đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, đối với mỗi chúng ta chỉ có tình cảm là chưa đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mình khi gặp biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.
Những vấn đề nêu trên là yêu cầu đặt ra trong cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. càng thực hiện tốt các yêu cầu đó, cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung và đấu tranh lý luận nói riêng sẽ đạt được hiệu quả như mong đợi. Cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Đảng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về Đảng cầm quyền; về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả công tác tư tưởng, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị trong Đảng, nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp”.

-----------------------------------------
(1) Đảng công sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.131-132

Bản quyền thuộc về Trường Chính trị  tỉnh Gia Lai
 


Địa chỉ: 58 Lê Thánh Tôn - TP.Pleiku - tỉnh Gia Lai - Điện thoại: 059 3824 369
Trưởng ban biên tập: Tiến sĩ Nguyễn Thái Bình - Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Gia Lai  
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai