You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.

CÔN ĐẢO – TRƯỜNG HỌC LỚN CHO CÁC THẾ HỆ MAI SAU

01/11/2018
ThS.Lê Thị Tình
Khoa NN-PL
 
     Tôi đặt bút viết những dòng này sau khi vừa kết thúc chuyến hành trình bốn ngày ba đêm về với Côn Đảo – Miền đất thiêng, báu vật của tổ quốc, là nơi anh hùng và bất diệt, là trường học lớn với thế hệ hôm nay và mai sau với bức tranh vẽ lên là những chứng cứ lịch sử vẫn còn nguyên vẹn.


 
     Chúng tôi đến với Côn Đảo vào giữa tiết tháng mười, do ảnh hưởng từ luồng gió mùa đông bắc nên thời tiết trên biển không được thuận lợi, vì thế sau khi rời thành phố Hồ Chí Minh máy bay phải bay vòng gần 20 phút, khó khăn lắm mới thoát được một đám mây dày đặc, cơn mưa lớn để hạ cánh xuống sân bay Cỏ Ống - Côn Đảo. Trước mắt chúng tôi Côn Đảo hiện lên như một bức tranh với màu xanh ngọc bích của nước biển, mây trời, núi non đẹp tuyệt xua tan đi tất cả những mệt mỏi trong các thành viên đoàn. Trên đường về khách sạn, đoàn chúng tôi được hướng dẫn viên du lịch giới thiệu tổng quan về Côn Đảo, về vị trí địa lý, đặc điểm, khí hậu, con người, lịch sử của mảnh đất này.
 
     Từ sân bay về thị trấn trung tâm huyện đảo đi đường bộ chừng hơn 10 cây số, con đường quanh co, uốn lượn quanh bờ biển, một bên là núi, một bên biển. Thiên nhiên hoang sơ, bình yên đến lạ hấp dẫn người ta là vậy, nhưng chiến tranh xâm lược, sự đô hộ và áp bức của thực dân Pháp và các thế lực đế quốc xâm lược đã biến Côn Đảo từ thiên đường của cảnh sắc đã trở thành địa ngục của trần gian. Hơn 100 năm đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc, 16 hòn đảo của Côn Đảo giữa biển khơi xanh biêng biếc cây cối và mượt mà phải đè nặng trên mình nào là nhà tù, tháp canh và trại lính, xiềng xích, đòi roi…và từ những người con yêu nước chân chính, nghĩa khí, học thức của quê hương dân tộc chúng đã biến thành khổ sai, sống không bằng chết nơi địa ngục trần gian.
 
     Trong suốt chuyến hành trình ấy ấn tượng đầu tiên để lại là những số người đã mãi mãi nằm yên nghỉ trên đất này (hơn 20.000 người đã ngã xuống) gấp ba lần số người đang sinh sống trên mảnh đất Côn Đảo ngày nay. Tương ứng với số người giam cầm là với số lượng trại giam, trại cải huấn, chuồng bò, chuồng cọp… trong suốt hơn 113 năm với đủ các phân khu. Những thế hệ lão thành cách mạng, những nhà lãnh đạo kiệt xuất của dân tộc cũng đã từng bị giam cầm ở đất này như Nguyễn Văn Cừ, cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, đồng chí Lê Duẫn, đồng chí Lê Hồng Phong, chị Võ Thị Sáu, nhà yêu nước Nguyễn An Ninh…và biết bao nhà lãnh đạo của đảng, nhà nước ta cũng đã từng bị đày đọa, giam cầm nơi đây.
 
     Chúng tôi đến buổi trưa thì buổi chiều đoàn chúng tôi bắt đầu vào thăm trại tù Phú Hải (trại giam đầu tiên được xây dựng tại Côn đảo), nơi có truyền thuyết về hầm xay lúa. Sau đó, Đoàn thăm quan Trại Phú Tường, nơi có Chuồng Cọp Pháp. Cuối cùng, Đoàn đến trại Phú Bình, nơi có Chuồng Cọp Mỹ và thăm quan thêm một vài nơi như khu biệt lập Chuồng Bò, Bãi sọ người, .... Đến với các địa điểm này các thành viên trong Đoàn đã không cầm được nước mắt khi nghe hướng dẫn viên của khu di tích miêu tả lại đời sống, các hình thức tra tấn tù nhân, đặc biệt là các nữ tù chính trị tại các trại giam, chuồng cọp Pháp và Mỹ. Tôi chợt nhớ câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời mở đầu bản tuyên ngôn độc lập 1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy,có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Song hơn 100 năm đặt chân lên hòn đảo này chúng đã làm gì !  Một mặt, chúng đã cao giọng nói về tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền và sự thật chúng đã che đậy, ngụy trang bằng cách xây nhà nguyện, khu nhà ăn, khu giải trí thể thao, văn nghệ …nhằm chỉ để che mắt báo chí, ngôn luận trong và ngoài nước. Mặt khác chúng đã sử dụng các hình thức tra trấn độc ác, đã man, không nơi đâu có thể nghĩ ra. Chúng tôi tự hỏi trên hành tinh này, khắp thế gian này trong hơn 100 năm ai đã nghĩ ra nhiều kiểu đày đọa, tra tấn con người một cách khiếp đảm như ở Côn Đảo này?
 
     Nhưng kẻ thù càng độc ác, tàn bạo thì ý chí kiên cường của những người yêu nước và chiến sĩ cách mạng càng cao, như những đốm lửa bùng lên giữa biển khơi mênh mông. Không có năm nào không có vụ vượt ngục. Phần lớn các vụ vượt ngục đều thất bại. Những vụ vượt ngục thành công đều đã trở thành những câu chuyện: “truyền kỳ”. Nhưng dù có thất bại hay thành công, qua mỗi lần, khí phách anh hùng của tù nhân trên đảo lại càng được nâng cao. Còn kẻ thù vô cùng hoảng sợ. Chúng dù có giam giữ thể xác của người cách mạng, nhưng không làm giảm sút tinh thần bất khuất của họ”. Tinh thần và dũng khí đó của những chiến sĩ cách mạng ở Côn Đảo hun đúc nên những giá trị cao quý truyền cho những thế hệ hôm nay.
 
     Qua hệ thống 12 nhà tù, khu trại giam thời thực dân Pháp, các khu trại giam của đế quốc Mỹ, đã phơi bày toàn bộ bản chất dã man của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Ở khu biệt lập chuồng bò có 24 phòng và có một khu nhốt bò với đường ống ngầm dẫn phân qua hầm chứa và chúng đã dùng hầm phân bò, nước giải nhào lộn với nhau để tra tấn, hành hạ các chiến sĩ yêu nước. Nước phân bò được bơm từ từ cho đến khi ngập lút đầu, làm tù nhân sặc sụa cho đến chết.
 
     Đi tới đâu cũng bắt gặp bia tưởng niệm, mộ tập thể (tại nghĩa trang hàng dương hiện có 26 ngôi mộ tập thể chính thức, 1920 ngôi mộ được tập kết nhưng chỉ có gần 700 ngôi mộ có tên tuổi), những tưởng qua nghĩa trang hàng keo, nghĩa trang hàng dương những ngôi mộ ngăn nắp, quy hoạch song chỉ lại là những bãi keo, rặng dương cứ kéo dài mãi bên bờ biển dài, sóng vỗ hát ru. Hướng dẫn viên như hiểu thắc mắc của chúng tôi bèn giải thích rằng, các tù nhân nằm như vị trí ban đầu đồng đội chôn cất và hiện không thay đổi vị trí, cũng chẳng xới đất để tìm vì có thể sẽ vùi lấp những phần mộ khác, các phần mộ tại hàng keo trước đây hiện cũng được quy tập về khu D của nghĩa trang Hàng Dương, nghĩa trang Hàng Keo ngày nay chỉ còn bia tưởng niệm chung để tưởng nhớ những người đã khuất, còn nằm lại nơi đây, những cây keo cũng còn lại rất ít mà thay vào đó là những rặng Dương. Chúng tôi lần lượt viếng mộ của đồng chí Lê Hồng Phong, nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và các anh hùng, liệt sĩ khác. Chúng tôi đứng lặng hồi lâu trước mộ chị Võ Thị Sáu. Nằm cạnh mộ chị sáu là đồng chí Hồ Văn Năm, hy sinh cùng ngày, cùng giờ với chị sáu và lúc ấy chỉ mới 18 tuổi. Cách mộ chị Võ Thị Sáu không xa là ngôi mộ tập thể của năm chiến sĩ kiên cường chống ly khai hy sinh anh dũng trong trận khủng bố đẫm máu ngày 27-3-1961. Chúng tôi đứng đó, lặng lẽ kính cẩn nghiêng mình trước mộ các anh, các chị và từ trong trái tim mình tự nhủ: chúng tôi có hôm nay do đâu mà có. Mong các anh, các chị an nghỉ và có thể ngậm cười nơi chín suối vì lớp trẻ kế tiếp sự nghiệp của các anh, các chị hôm nay đang sống và làm việc xứng đáng với sự hy sinh cao cả của lớp người đi trước đã ngã xuống.
 
     Ôi những trang sách, những vần thơ, những chuyện kể chẳng thể bằng một lần đến để cảm nhận, vẫn còn đó phần máu thịt những người đã ngã xuống, còn đó khúc tráng ca của một giai đoạn lịch sử cách mạng dân tộc. Nơi đây không chỉ sáng ngời những tấm gương hy sinh cao cả, ý chí bất khuất trước kẻ thù mà còn lắng đọng bởi tấm lòng nhân ái, đùm bọc, chở che lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn, thậm chí ngay cả trước khi chết còn cởi áo cho nhau. Khái quát phẩm chất cao đẹp đó là tượng đài “Chết còn cởi áo cho nhau” ở sân hành lễ tại Trung tâm Nghĩa Trang Hàng Dương. Tượng đài cao chín mét, nặng 25 tấn, khởi công xây dựng ngày 16-7-1980. Đó là tác phẩm điêu khắc đượ̣c tái tạo từ câu chuyện có thật. Người trao áo là đồng chí Vũ Văn Hiếu, nguyên Bí thư đầu tiên của khu mỏ Hòn Gai (1930). Người nhận áo là Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Trước khi hy sinh đã cởi chiếc áo của mình trao cho người bạn tù cùng phòng với lời dặn: “Các đồng chí còn phải tiếp tục chiến đấu, phải ráng sống mà phục vụ cách mạng. Tôi sắp chết rồi, nghĩ mãi chỉ còn cách này đóng góp cho Đảng…”.. Đồng chí Vũ Văn Hiếu đã trở thành biểu tượng cho tinh thần: “Sống vì Đảng, chết không rời Đảng”. Bức tượng đầy ý nghĩa này, thắm đượm tình người, ngời sáng tình đồng chí cao lồng lộng giữa Nghĩa trang Hàng Dương, nơi yên nghỉ của hàng nghìn người con ưu tú của dân tộc, của Đảng đã chiến thắng vẻ vang và hy sinh oanh liệt trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì Chủ nghĩa xã hội của Tổ quốc.
 
     Tối hôm đó, chúng tôi cũng đã đến với Cầu tàu 914, nơi ghi dấu chân lưu đày đầu tiên của hàng chục vạn người tù lên đảo. Cầu tàu 914 Côn Đảo – là một trong hơn 10 di tích lịch sử của Côn Đảo. Cầu Tàu Côn Đảo được xây dựng từ năm 1873. Từ đó đến nay được xây dựng, cải tạo và sửa chữa nhiều lần. Cầu là nơi chứng kiến nhiều sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại diễn ra trên đảo. Ngay từ đầu cầu có phiến đá mang nhiều kỷ niệm đau thương được lập để ghi dấu sự hy sinh của 914 người đã ngã xuống khi vận chuyển đá xây cầu. Nơi đây, ngày 27-2-1965, 57 tù chính trị trong một kíp tù khổ sai, khi ra dọn tàu đã đánh chiếm chiếc tàu “ Thương Cảng Sài Gòn” mang số hiệu TCS 131, bắt toàn bộ nhân viên rồi đoạt ca nô trở về vùng giải phóng ngay trong đêm ấy. Cầu tàu chứng kiến niềm hân hoan của hơn 2000 tù chính trị được giải phóng vào tháng 9-1945, khi chiếc ca nô do người thợ máy Tôn Đức Thắng cầm lái dẫn đoàn tàu thuyền của Ủy Ban hành chính-Kháng chiến Nam Bộ ra rước tù chính trị Côn Đảo về với chính quyền Cách Mạng, về với nhân dân. Ba mươi năm sau, Cầu Tàu lại rợp bóng cờ bay đón hơn 4000 tù chính trị, khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Cũng chính nơi này đã có hàng trăm nghìn lượt tù nhân lên Cầu Tàu trong những chuyến lưu đày, hàng chục nghìn người chỉ một lần đặt chân lên đây bị những trận đòn roi mà chỉ biển cả, trời đất mới nghe thấy để rồi vĩnh viễn không bao giờ trở lại đất liền. Trong số đó có người con gái Anh hùng của vùng Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu: Thiếu nữ Võ Thị Sáu.
 
2.png

     Để hiểu nhiều hơn về Côn Đảo hôm qua, hôm nay, trong những ngày ở lại trên mảnh đất thiêng liêng này, tôi đến Bảo tàng Côn Đảo nơi đang lưu giữ những hiện vật và hình ảnh khắc nghiệt, tàn bạo của các nhà Tù tại Côn Đảo thời Pháp và Mỹ. Nơi đây cũng trưng bày các hình ảnh đấu tranh anh dũng của những người tù yêu nước qua các thời kỳ như bác Tôn Đức Thắng, bác Lê Duẩn, đồng chí Lê Hồng Phong, Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh, Liệt sỹ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lưu Chí Hiếu... và hàng trăm, hàng ngàn các gương liệt sỹ khác. Đoàn chúng tôi dường như bước chậm hơn trước khu trưng bày về chị Võ Thị Sáu. Cuốn sổ đặt trong tủ kính vẫn còn in rõ nét mực viết tay ghi danh những người tử tù bị hành quyết. Tên Chị Sáu ở những hàng cuối cùng với tên đồng chí Hồ Văn Năm, tử hình lúc 7h sáng, ngày 23-1-1952, và cứ thế nhiều cái tên và ngày tử hình nữa....cứ kéo dài mãi cuốn sổ này.
 
     Chiều ngày 19-10, Đoàn tiếp tục hành trình đến mũi Cá mập, đỉnh Tình yêu, đi qua Bãi Nhát - bãi tắm đẹp nhất Côn Đảo với bãi cát trắng mịn và làn nước trong xanh. Đoàn tiếp tục chuyến hành trình tới thăm cảng Bến Đầm, cảng lớn nhất tại Côn Đảo. Sau đó, đoàn đến thăm và thắp hương tại Chùa Vân Sơn Tự, một di tích lịch sử đã được xếp hạng. Chùa được xây dựng khang trang trên một ngọn núi Cao, mặt hướng ra biển. Nơi đây có bàn thờ Chị Võ Thị Sáu và Bà Hoàng Phi Yến (là thứ phi của vua Nguyễn Ánh), là 2 người phụ nữ được người dân trên đảo tôn thờ.
 
      Sau ngày giải phóng, Côn Đảo trở về tay nhân dân. Sau hơn 30 năm phấn đấu, cùng với công cuộc đổi mới, kiến thiết đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Côn Đảo đã dần thay da đổi thịt, bộ mặt cảnh quan Côn Đảo đã khang trang đẹp đẽ hơn, cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, nhà ở...thông tin liên lạc giữa Côn Đảo với mọi nơi và giữa các hòn đảo nhỏ với trung tâm được thông suốt. Việc đi lại của các tầng lớp nhân dân trên đảo từng bước được thuận lợi. Đời sống về vật chất cũng như tinh thần của nhân dân mỗi ngày được cải thiện.
 
     Những ai đã từng đến với Côn đảo mới cảm nhận hết những gian truân, đầy đọa khổ ải của những người chiến sĩ cách mạng, ở vào tình thế ấy, ngay cả những quyền bản năng con người cũng chẳng còn, kẻ thù đã tạo những nhà tù, trại giam với những đòn tra tấn vô cùng tàn bạo, dã man, những hy sinh, tinh thần bất diệt, đấu tranh và chịu đựng. Khi trở về, chắc hẳn tự tâm mỗi người đều tự nhủ mình cần phải làm nhiều việc tốt hơn, sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn, luôn phấn đấu để không phụ công ơn của các Anh hùng liệt sỹ đã cho chúng ta có được cuộc sống hòa bình hôm nay.
 
     Những đau thương, những khúc tráng ca, những chứng cứ lịch sử dân tộc mình còn đó, bao lớp người đã mãi mãi nằm lại nơi đây song Côn Đảo đã trở thành điểm đến, trở thành nơi trở về và kết nối của bao thế hệ để khúc tráng ca ấy, để tinh thần, khí phách bất diệt ấy được viết và sống mãi trong sự nghiệp cách mạng dân tộc ta hôm nay và mai sau./.
3.png

Bản quyền thuộc về Trường Chính trị  tỉnh Gia Lai
 


Địa chỉ: 58 Lê Thánh Tôn - TP.Pleiku - tỉnh Gia Lai - Điện thoại: 059 3824 369
Trưởng ban biên tập: Tiến sĩ Nguyễn Thái Bình - Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Gia Lai  
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai