Những điểm mới trong Hiến Pháp bổ sung, sửa đổi...

24/04/2014

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (NĂM 2013) CẦN QUÁN TRIỆT KHI GIẢNG DẠY BÀI “ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

 


 

------------------

TS. Nguyễn Thái Bình

(Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh )

Phần 1 . Đặt vấn đề

Ngày 28/11/2013, trong không khí trang nghiêm, tràn đầy xúc động, Dự thảo Hiến pháp bổ sung, sửa đổi đã được 486/488 đại biểu Quốc hội đã biểu quyết, bằng 97,59% tổng số đại biểu Quốc hội khóa XIII nhất trí thông qua. Việc Quốc hội thông qua Hiến pháp là sự kiện chính trị pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta.
Trên thế giới, việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp là việc làm bình thường của mỗi quốc gia; sửa đổi để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của mỗi nước. Hiến pháp của một nước không phải là bất biến mà nó chỉ có giá trị trong một giai đoạn nhất định của lịch sử…
Ở Trung Quốc, từ khi bản Hiến pháp được ban hành tháng 9/1954 đến nay đã 4 lần sửa đổi: năm 1954, 1975, 1978 và 1982. Ví dụ: trước đây Trung Quốc lập chức vụ Chủ tịch nước, sau đó lại không lập chức vụ Chủ tịch nước; năm 1982 Hiến pháp Trung Quốc lại tái lập chức vụ Chủ tịch nước. Vì vậy Hiến pháp năm1982 của Trung Quốc có thêm một điều: “Chủ tịch nước phải là một công dân Trung Quốc, có tuổi từ 45 trở lên; Chủ tịch nước không được giữ chức hơn 2 nhiệm kỳ, một nhiệm kỳ 5 năm, tương đương với nhiệm kỳ của Đại hội Đảng”. Cộng hòa Liên bang Đức được cho là quốc gia điển hình của việc sửa Hiến pháp. Trong vòng 40 năm, từ 1951 đến 1990 Hiến pháp Đức đã sửa 38 lần, bình quân mỗi năm 1 lần, có năm sửa tới 3 lần; trong đó có 14 lần sửa 1 điều, 8 lần sửa 1 điểm, 4 lần  sửa 1 câu, còn lại là sửa đổi một đoạn; Cộng hòa Pháp ra đời năm 1958, đến nay đã sửa 13 lần. Lần sửa đổi cuối cùng vào tháng 10/2000. Có năm Cộng hòa Pháp sửa đổi Hiến pháp 2 lần, như: tháng 7/1993 và 11/1993; tháng 1/1999 và tháng 7/1999. Quốc gia có hiến pháp được coi là bền vững nhất thế giới là Hoa Kỳ, trong vòng 200 năm từ 1791 tới 1992 đã sửa tổng cộng 27 lần, nghĩa là 7-8 năm sửa 1 lần.
Việt Nam: Từ năm 1946 đến nay nước ta có 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Như vậy, trong 68 năm kể từ ngày nước Việt Nam mới được thành lập, nước ta đã 4 lần sửa đổi Hiến pháp, bình quân 17 năm sửa đổi một lần.
Phần 2 . Nội dung
2.1.  Bối cảnh nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Một là, Hiến pháp năm 1992 được ban hành trong bối cảnh những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra (năm 1986) và để thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991.
- Hiến pháp năm 1992 là bản hiến pháp có thời gian thực hiện dài nhất hơn 21 năm, từ năm 1992 đến 2013, (Hiến pháp năm 1946 thực hiện trong 13 năm; Hiến pháp năm 1959, thực hiện trong 20 năm; Hiến pháp năm 1980, thực hiện 12 năm). Qua 21 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử to lớn.
- Ðến nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước, nhằm xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hai là, Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 ra đời trong điều kiện Việt Nam chưa thực hiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN một cách đầy đủ; nước ta chưa phải là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, chưa hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Vì vậy, phải khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới và tình hình thế giới hiện nay.
Ba là, Trước tình hình mới, cần phải xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước, phù hợp với kinh tế thị trường, định hướng XHCN, hội nhập quốc tế và luật pháp thế giới, Đảng và Nhà nước ta đề ra chủ trương: “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới”.
- Mặt khác, Hiến pháp năm 1992 ra đời khi nước ta mới có 33 luật được ban hành, hiện nay nước ta đã có 350 luật, cần phải sửa đổi Hiến pháp để phù hợp với những văn bản luật mà Quốc hội đã thông qua.
- Ngoài ra Việt Nam đã tham gia 6/14 công ước quốc tế, sửa đổi Hiến pháp để từng bước chúng ta tham gia vào các công ước quốc tế còn lại.
- Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2 (Khóa XI) xác định: “Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc rất khó và hệ trọng, cần được tiến hành một cách khoa học và chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của BCH Trung ương”.
Bốn là, Thực hiện chủ trương của Đại hội XI và Nghị quyết của Hội nghị  BCH Trung ương  lần thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã báo cáo và được Quốc hội khóa XIII nhất trí triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992.
Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
2.2.Một số điểm mới của Hiến Pháp năm 2013
2.2.1. Về hình thức.
Một là, Hiến pháp mới có 11 chương, 120 điều; so với Hiến pháp năm 1992, giảm 1 chương, 27 điều. Trong  số 120 điều thì giữ nguyên 7 điều; sửa đổi, bổ sung 101 điều và bổ sung mới 12 điều.
Hai là, Hiến pháp năm 2013 được nâng cao chất lượng về kỹ thuật lập hiến, về văn từ, chữ nghĩa để bảo đảm tính ổn định lâu dài của Hiến pháp.
Ví dự như: Chương I, được xây dựng trên cơ sở viết gọn lại tên Chương I và chương IX của Hiến pháp năm 1992 thành “Chế độ chính trị”; đưa các quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh tại Chương XI của Hiến pháp năm 1992 vào Chương I;
Ba là, Chương II, được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại Chương V, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 thành: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”
Bốn là, Hiến pháp mới lồng ghép Chương II: Chế độ kinh tế và Chương III: Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ của Hiến pháp năm 1992 thành Chương III: “Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường”, nhằm thể hiện sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội với phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường.
Năm là, Chương VIII, được đổi vị trí từ Chương X: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân của Hiến pháp năm 1992 thành: “Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân”. Mục đích là để thể hiện sự gắn kết giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tòa án nhân dan, Viên Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, một trong tam quyền phân lập của nước Cộng hòa XHCN Việt nam, nên phải được đưa lên ở vị trí chương VIII.
Sáu là, Chương IX: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân của Hiến pháp năm 1992 được đổi tên thành Chương: “Chính quyền địa phương”, để làm rõ hơn tính chất của hệ thống cơ quan công quyền ở địa phương trong mối quan hệ với Trung ương, thể hiện tính gắn kết, mối quan hệ chặt chẽ giữa Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trong chỉnh thể của chính quyền địa phương.
Bảy là, Chương X, là chương hoàn toàn mới, quy định về thiết chế hiến định độc lập gồm: Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước, nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.
2.2.2. Những nội dung mới trong Hiến pháp năm 2013
Điểm mới thứ nhất: Về Lời nói đầu: trên cơ sở kế thừa Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới được sửa đổi theo 4 căn cứ:
Một là, khái quát, cô đọng và súc tích hơn về truyền thống, lịch sử đất nước, dân tộc, lịch sử lập hiến của nước ta;
Hai là, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới;
Ba là, mục tiêu xây dựng đất nước và thể hiện mạnh mẽ hơn ý nguyện của nhân dân ta trong việc ban hành và sửa đổi Hiến pháp.
Bốn là, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
- Nếu như lời nói đầu Hiến pháp năm 1992 là 531 từ thì Lời nói đầu của Hiến pháp năm 2013 chỉ có 290 từ, được chỉnh sửa theo hướng khái quát, cô đọng, súc tích và ngắn gọn hơn, chỉ gần bằng 1/2 so với lời nói đầu của Hiến pháp 1992.
- Lời nói đầu của Hiến pháp năm 2013 đã được đúc rút kinh nghiệm từ 193 bản hiến pháp của các nước trên thế giới. Trên thế giới, lời nói đầu của Hiến pháp nhiều nước rất ngắn gọn.
- Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam năm 1980 dài tới 4.000 từ. Lần nay giảm xuống còn 290 từ là một điểm mới trong Hiến pháp của nước ta.
- Đáng chú ý là, trong quá trình thảo luận ở Quốc hội, Đại biểu Nguyễn Văn Tiên (ở Tiền Giang) còn đề nghị cần đưa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đất đai cương thổ vào phần lời nói đầu của Hiến pháp, nhưng không được Quốc hội đồng ý.
Điểm mới thứ hai, Về chương I: Chế độ chính trị.
Chương I, có 13 điều, từ điều 1 đến điều 13.
Một là, Hiến pháp không đề cập đến việc thay đổi tên nước, tên nước ta là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Ngay tại Điều 1 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo và vùng biển, vùng trời”.
-  Bằng việc bổ sung thêm từ “dân chủ” vào Điều 1, Hiến pháp khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, là căn cứ quan trọng để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
- Đáng chú ý là, trong khi lấy ý kiến của nhân dân đóng góp vào Hiên pháp bổ sung sửa đổi, một số ý kiến cho rằng nên lấy lại tên nước “Việt Nam dân chủ Cộng hòa”. Nhưng đa số ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục quy định tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì ba lý do sau:
Thứ nhất, tên gọi này ra đời trong bối cảnh cả nước vừa hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, cả nước đi lên CNXH, khẳng định con đường mục tiêu xây dựng chế độ XHCN của Đảng, nhà nước và nhân dân.
Thứ hai, tên gọi này đã được sử dụng ổn định từ tháng 7/1976 đến nay, đã được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 và năm 1992.
Thứ ba, Việc thay đổi tên nước trong thời điểm này sẽ dẫn đến những hệ quả không có lợi, thậm chí bị xuyên tạc là đang xa rời mục tiêu, con đường lên CNXH và làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính, gây tốn kém, phức tạp.
Hai là, Về Điều 4 của Hiếp pháp: Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
- Quy định này khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta.
- Điểm mới của Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ngoài quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” còn có thêm 2 nội dung sau;
1. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
2. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Ba là, Lần đầu tiên từ “Nhân dân” trong Hiến pháp được viết hoa, thể hiện sự tôn trọng Nhân dân trong Hiến pháp, bộ luật gốc của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm khẳng định bản chất nhà nước là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
Điểm mới thứ ba là, Về Chương II: quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
- Đây là chương có 7.500.000 lượt ý kiến đóng góp của nhân dân. Cũng là chương mà các thế lực thù địch tập trung chống phá ta nhiều nhất. Nội dung của chương này quy định nhưng điều hết sức quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.
- Chương II có 36 điều, từ Điều 14 đến Điều 39; so với Hiến pháp năm 1992 trong 36 điều thì có 28 điều sửa đổi, bổ sung; giữ nguyên 3 điều và viết mới 5 điều là các Điều 16, 21, 44, 45 và 46.
- Điểm mới của chương này được ghi nhận ở các nội dung sau:
Một là, Tất cả các điều luật của chương này điều phù hợp với Tuyên ngôn ngân quyền của Liên Hợp quốc ngày 10/12/1948,  phù hợp các công ước, luật pháp quốc tế và xã hội ta.
 Hai là, Chuyển vị trí Chương thứ V của Hiến pháp năm 1992 về  quyền con người lên Chương 2 của Hiến pháp năm 2013 ngay sau Chương Chế độ chính trị. Điều này thể hiện rõ quan điểm coi trọng về quyền con người, quyền công dân của Đảng và Nhà nước ta, đây là một thay đổi rất lớn, một bước tiến mới của Hiến pháp.
- Trong Hiến pháp 1992 sắp xếp đó chưa logic, quyền con người được quy định ở Điều 50 của Chương V. Ngày nay nhân quyền được cả thế gới quan tâm. Mặt khác quyền con người rộng lớn hơn quyền công dân phải được nằm ở vị trí trang trọng. Vì vậy, trong Hiến pháp mới, quyền con người được đưa lên Chương 2, trên chương kinh tế, xã hội, văn hóa, đó là sự thể hiện việc tôn trọng đầy đủ hơn quyền con người của Đảng và Nhà nước ta.
Ba là, Hiến pháp năm 1992 có 147 điều, nhưng chỉ có 34 điều nói về quyền con người; nhưng trong Hiến pháp mới có 120 điều, nhưng lại có tới 36 điều nói về quyền con người, tăng hơn 2 điều so với Hiến pháp năm 1992. Theo ngôn ngữ “hóa học” thì “nồng độ” về quyền con người trong Hiến pháp mới “đậm đặc hơn”. Nó khẳng định đầy đủ xu thế phát triển của một xã hội dân chủ, tiến bộ.
Bốn là, Hiến pháp năm 1992 chỉ xác nhận: “Quyền con người được tôn trọng” thì Hiến pháp năm 2013 đã nâng lên: “Quyền con người, quyền công dân được công nhận, được tôn trọng, được bảo vệ và được bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Như vậy là: nội hàm quyền con người được Hiến pháp mới khẳng định mạnh mẽ hơn, được bảo về chắc chắn hơn.
Năm là, Hiến pháp năm 2013 cũng xác định rõ nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia  trật tự an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng.

Sáu là, Hiến pháp mới quy định mới về các quyền con người, quyền công dân, đó là các quyền: quyền sống, quyền hiến mô, bộ phận người đã hiến xác, quyền sở hữu tư nhân, quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, quyền bảo đảm an sinh xã hội mà Hiến pháp năm 1992 chưa quy định nội dung này.

- Nhìn chung, Chương II của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 tiến bộ hơn những chuẩn mực quốc tế hiện nay.

- Trong toàn bộ Hiến pháp năm 2013 thì Chương II về quyền con người là chương sửa đổi nhiều nhất, lớn nhất và có giá trị nhất.

Điểm mới thứ tư là:  Hiến pháp mới quy định rõ hơn nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và điều chỉnh lại một số nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này. 
- Hiến pháp mới khẳng định: Quốc hội là cơ quan lập pháp;
- Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện quyền hành pháp;
- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp;
- Hiến pháp quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ tịch nước trong hoạt động lập pháp vói nhiều nội dung rộng lớn, có quyền lực hơn. Điều 88 quy định Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; 
3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định đại xá;  
4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam; 
5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;  
6. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. 
- Đồng thời, Hiến pháp xác định rõ trách nhiệm của tập thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên của Chính phủ;
- Hiến pháp quy định rõ về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân theo định hướng cải cách tư pháp.
Điểm mới thứ năm là, nội dung về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường được thể hiện theo hướng ngắn gọn, rõ ràng và mang tính nguyên tắc, bảo đảm tính ổn định lâu dài của Hiến pháp.
Hiến pháp mới quy định rõ 6 nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước ta là:
(1) Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ;
(2) Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển nền kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường;
(3) Khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thông qua các chính sách cụ thể chứ không can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
(4) Các tổ chức, cá nhân được tự do kinh doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.
(5) Nhà nước thực hiện chính sách chống độc quyền và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh.
(6) Tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân được Nhà nước thừa nhận, bảo hộ và không bị quốc hữu hoá; trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, tổ chức theo giá thị trường, thể thức trưng dụng theo luật định.
Điểm mới thứ sáu là,  Hiến pháp đã bổ sung thêm 2 điều (tại Chương X), quy định rõ về thiết chế hiến định độc lập, gồm: Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước. 
+ Về Hội đồng bầu cử quốc gia, nhằm mục đích hoàn thiện chế độ bầu cử cũng như thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp là việc bầu cử, ứng cử và hình thức dân chủ đại diện thông qua đại biểu dân cử.
 - Hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
- Việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia đồng thời góp phần bảo đảm tính khách quan trong chỉ đạo tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. 
+ Về Kiểm toán nhà nước, Hiến pháp mới quy định vai trò, địa vị pháp lý và chức năng của Kiểm toán nhà nước để tăng cường vị thế, trách nhiệm của cơ quan Kiểm toán nhà nước.
Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có chức năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính và tài sản quốc gia. Hiến pháp chỉ quy định Quốc hội bầu Tổng Kiểm toán nhà nước; còn những vấn đề cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước sẽ do luật điều chỉnh.
Phần III. Kết luận
Có thể nói, với những điểm mới được xác định, bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013 được Quốc hội thông qua đã thể hiện quan điểm đổi mới cũng như quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm sự đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế,...
  Vì vậy, đây là một bản Hiến pháp mới - bản Hiến pháp thứ 5 của nước ta với tên gọi: Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2014.

Bản quyền thuộc về Trường Chính trị  tỉnh Gia Lai
 


Địa chỉ: 58 Lê Thánh Tôn - TP.Pleiku - tỉnh Gia Lai - Điện thoại: 059 3824 369
Trưởng ban biên tập: Tiến sĩ Nguyễn Thái Bình - Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Gia Lai  
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai